Học tốtLớp 12

Sơ đồ tư duy Dọn về làng dễ nhớ, ngắn gọn

Sơ đồ tư duy Dọn về làng dễ nhớ, ngắn gọn

Nhằm mục đích giúp học sinh dễ dàng hệ thống hóa được kiến thức, nội dung các tác phẩm trong chương trình Ngữ văn 12, chúng tôi biên soạn bài viết Sơ đồ tư duy Dọn về làng dễ nhớ, ngắn gọn với đầy đủ các nội dung như tìm hiểu chung về tác phẩm, tác giả, bố cục, dàn ý phân tích, bài văn mẫu phân tích, …. Hi vọng qua Sơ đồ tư duy Dọn về làng sẽ giúp học sinh nắm được nội dung cơ bản của bài Dọn về làng.

A. Sơ đồ tư duy Dọn về làng

Sơ đồ tư duy Dọn về làng dễ nhớ, ngắn gọn

B. Tìm hiểu tác phẩm Dọn về làng

DỌN VỀ LÀNG

Bạn đang xem: Sơ đồ tư duy Dọn về làng dễ nhớ, ngắn gọn

                                                       NÔNG QUỐC CHẤN

B. TÌM HIỂU TÁC PHẨM:

I. TÁC GIẢ

1. Nông Quốc Chấn (1923 – 2002) tên khai sinh là Nông Văn Quỳnh, dân tộc Tày, quê ở xã Cốc Đán, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Cạn. 

– Tham gia cách mạng từ năm 1942 trong phong trào thanh niên cứu quốc ở địa phương và bắt đầu làm thơ bằng tiếng Tày.

– Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Nông Quốc Chấn hoạt động ở tỉnh và thơ ông bắt đầu được biết đến rộng rãi. Ông từng là Giám đốc Sở Văn hoá khu tự trị Việt Bắc, Thứ trưởng Bộ Văn hoá – Thông tin. 

– Nông Quốc Chấn được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 2000. Tác phẩm chính : Việt Bắc đánh giặc (1948), Tiếng ca người Việt Bắc (1959), Đèo gió (1968), Dòng thác (1977), Suối và biển (1984).

II. TÁC PHẨM:

     Bài thơ “Dọn về làng” được sáng tác năm 1950. 

    Chiến dịch Biên giới của quân và dân ta đã đập tan hệ thống đồn, bốt của quân Pháp trên phòng tuyến biên giới dọc theo đường số Bốn, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, giải phóng nhiều vùng rộng lớn thuộc các tỉnh Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn. Tác phẩm được giải thưởng tại Đại hội liên hoan Thanh niên, sinh viên thế giới ở Béc-lin năm 1951 và được đưa vào tuyển tập “Thơ Việt Nam” 1945 -1956.

III. DÀN Ý PHÂN TÍCH:

1. Mở bài:

– Sơ lược về nhà thơ Nông Quốc Chấn và phong cách sáng tác.
– Dọn về làng viết về quê hương của tác giả trong những năm tháng chiến đấu đau thương mà anh dũng, đồng thời nêu lên những ý nghĩa của kháng chiến thắng lợi đối với đời sống cũng như con người Tây Bắc.

2. Thân bài

a. Niềm hân hoan chiến thắng trong 4 dòng thơ đầu “Mẹ!…như củi”:
– Kết quả của cuộc chiến được diễn tả bằng hình ảnh sống động, đậm lối tư duy, diễn đạt của người miền núi, một vẻ rất chất phác, rất hồn hậu.
– Cao Bằng, Lạng Sơn đã giải phóng, quê hương đã yên bình, đối với mỗi người dân miền núi là niềm hạnh phúc khôn tả, cuối cùng họ cũng có thể trở lại ngôi làng yêu dấu để “sửa nhà phát cỏ/Cày ruộng vườn, trồng lúa ngô khoai”.

b. Hồi tưởng về quá đau thương mà anh hùng của nhân dân miền núi trong kháng chiến:
* “Mấy năm qua…vắt bám đầy chân”: Bằng những biết thực tế Nông Quốc Chấn đã diễn tả chân thực nỗi khổ chạy giặc của đồng bào miền núi, những nỗi khổ băng rừng, lội suối trong kháng chiến vẫn còn in hằn trong trí nhớ.
* “Súng nổ kia…lối bước đi”:
– Sự cướp phá tàn bạo, điên cuồng giặc, phá lán, cướp quần áo.
– Hình ảnh người phụ nữ miền núi mạnh mẽ, kiên cường, nhạy bén hiện lên rõ ràng, một mình gánh vác cả gia đình trong quá trình chạy giặc hung hiểm.

* “Làm sao bây giờ…không biết nói nữa rồi”:
– Sự hi sinh mất mát đau thương đang diễn ra ngay trước mắt, khắc sâu vào trong lòng những người dân nơi đây, từng người cha, người anh, người con đang bị bị giặc bắt đi, họ bị đánh đập dã man, nhưng trái tim những con người anh hùng ấy vẫn thét lên những tiếng lòng yêu nước, căm ghét lũ giặc khôn cùng.
 => Lòng căm thù lũ giặc cướp nước, khiến nhân dân phải lầm than đã trở thành nguồn động lực, là sức mạnh to lớn để đồng bào miền núi kiên quyết đứng dậy đấu tranh giải phóng quê hương.

 “Chúng con còn thơ…ta mới hả”:
– Bi kịch tang thương của gia đình người phụ nữ Tày là bi kịch của cả dân tộc.
 => Tất cả những nỗi khổ, nỗi gian lao chạy giặc vượt núi băng rừng, cùng những hi sinh mất mát đẫm máu đã tụ lại thành nỗi căm hờn sâu sắc, đến bực này rồi đồng bào ta sẽ không nhẫn nhịn chịu đựng nữa, phải biến nỗi oán hận này thành sức mạnh để giết hết bọn giặc Tây cướp nước “Mày sẽ chết! Thằng giặc Pháp hung tàn/Băm xương thịt mày, tao mới hả”.

* “Hôm nay Cao-Bắc-Lạng…từng vũng”:
– Khung cảnh hồi sinh, vươn dậy mạnh mẽ với sức sống tiềm tàng mạnh mẽ của con người và mảnh đất Tây Bắc.
– Người dân miền núi bắt đầu xây dựng cuộc sống mới, sau bao nhiêu đau thương mất mát, bao lần mưa bom bão đạn, bầu trời Tây Bắc nay đã xanh trở lại, khắp Cao-Bắc-Lạng chỉ có tiếng cười vang, giòn giã, hân hoan niềm vui chiến thắng.

* “Mặt trời lên sáng …con sẽ về trông mẹ”:
– Hình ảnh mặt trời lên “sáng rõ” đó là tượng trưng cho một khởi đầu mới đầy hy vọng, người con lớn lên theo ánh mặt trời cách mạng mà ra chiến trường, chiến đấu bảo vệ quê hương, cùng lời hứa chân thành, sâu sắc mang đậm âm hưởng của dân tộc miền núi: “Ðuổi hết nó đi, con sẽ về trông mẹ”.
– Đó là niềm tin về một chiến thắng không xa, niềm tin về một một đất hoàn toàn sạch bóng quân thù, nhân dân nơi nơi đều được hưởng cuộc sống yên vui, thái bình, sẽ không còn chết chóc chiến tranh.

3. Kết bài

– Tổng kết nội dung tác phẩm và nêu cảm xúc cá nhân.

II. Bài Văn Mẫu Phân Tích Bài Thơ Dọn Về Làng Của Nông Quốc Chấn

Nông Quốc Chấn (18 tháng 11 năm 1923 – 4 tháng 2 năm 2002) là một nhà văn người dân tộc Tày, ông là một trong những gương mặt văn hóa tiêu biểu, đại diện cho tầng lớp trí thức dân tộc thiểu số trưởng thành trong kháng chiến. Đóng góp chủ yếu của Nông Quốc Chấn cho nền văn học Việt Nam đó là thơ, với những cảm xúc chân thành mộc mạc, lời thơ toát lên hơi thở riêng biệt trong lối tư duy và diễn đạt của dân tộc miền núi, hình ảnh thơ giản dị, tự nhiên và mang đậm chất núi rừng Tây Bắc. Năm 1950, chiến dịch biên giới thu đông kết thúc thắng lợi có ý nghĩa lịch sử vô cùng to lớn trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Hòa vào niềm vui chung của của bà con nhân dân miền núi và nhân dân cả nước nhà thơ Nông Quốc Chấn đã chắp bút cho tác phẩm Dọn về làng viết về quê hương của tác giả trong những năm tháng chiến đấu đau thương mà anh dũng, đồng thời nêu lên những ý nghĩa của kháng chiến thắng lợi đối với đời sống cũng như con người Tây Bắc.

Sau khi kháng chiến biên giới thu đông năm 1950 kết thúc thắng lợi bà con dân tộc Tày hớn hở, vui mừng dọn về làng trong niềm hân hoan hòa cùng với niềm vui chung của cả dân tộc, điều ấy thể hiện rất rõ ràng trong những vần thơ đầu.

“Mẹ! Cao – Lạng hoàn toàn giải phóng
Tây bị chết bị bắt sống hàng đàn
Vệ quốc quân chiếm lại các đồn
 Người đông như kiến, súng dày như củi.”

Sự phấn khởi, hân hoan tràn ngập trong những vần thơ, đó là lời người con sung sướng báo tin với người mẹ “Mẹ! Cao-Lạng hoàn toàn giải phóng”, kết quả của cuộc chiến được diễn tả bằng hình ảnh sống động, đậm lối tư duy, diễn đạt của người miền núi, một vẻ rất chất phác, rất hồn hậu. Trong suy nghĩ của họ bọn “Tây bị chết, bị bắt sống” nhiều lắm không phải là một con số cụ thể mà trong cách liên tưởng của người con đó phải tính là “hàng đàn”, đông như đàn trâu, đàn bò họ vẫn thường chăn dắt. Hình ảnh vệ quốc quân tiến vào chiếm lại các đồn cũng được mô tả bằng các hình ảnh “đông như kiến”, vũ trang tầng tầng lớp lớp như thanh “củi” thân thuộc mà họ vẫn thường đi rừng kiếm về. Cao Bằng, Lạng Sơn đã giải phóng, quê hương đã yên bình, đối với mỗi người dân miền núi là niềm hạnh phúc khôn tả, cuối cùng họ cũng có thể trở lại ngôi làng yêu dấu để “sửa nhà phát cỏ/Cày ruộng vườn, trồng lúa ngô khoai”, để được vui vầy cuộc sống ấm êm, để được hưởng niềm vui trọn vẹn trong những dịp tết tháng Giêng, rằm tháng 7. Sau tin báo chiến thắng Nông Quốc Chấn đã theo dòng hồi tưởng về những tháng ngày kháng chiến đầy gian khổ trong quá khứ.

“Mấy năm qua quên tết tháng Giêng, quên rằm tháng bảy,
Chạy hết núi lại khe, cay đắng đủ mùi
Nhớ một hôm mù mịt mưa rơi
Cơn gió bão trên rừng cây đổ
Cơn sấm sét lán sụp xuống nát cửa
 Ðường đi lại vắt bám đầy chân.”

Nỗi vất vả chạy giặc của nhân dân miền núi được Nông Quốc Chấn miêu tả rất thực tế và sinh động, vội chạy giặc đến mức chẳng còn màng được đến tết nhất, vượt đèo lội suối “hết núi lại khe”, phải nói là “cay đắng đủ mùi”. Những hôm trời nắng đường đi dẫu có chông gai cũng chẳng kinh hoàng bằng những hôm trời đổ mưa “mịt mù”, con người giữa thiên nhiên rộng lớn, phải chống chọi với bão tố, mưa sa, chống chọi với sự giận dữ của thiên nhiên nào là “cơn gió bão trên rừng cây đổ”, nào là những “cơn sấm sét” xé toang trời, lệch đất làm chiếc lán mới vừa dựng xong đã vội đổ. Đôi chân trần leo hết núi hết đồi, dẫm quanh sỏi đá, nhẵn mòn lối đi, lại gặp cả lài loài vắt hút máu, nghĩ mà rùng mình không thôi. Ai đã gây nên nỗi khốn khổ vượt núi băng rừng, ai đã để đồng bào miền núi phải bỏ làng, luồn lách vào rừng sâu? Chính là mũi súng ác độc của lũ giặc ác ôn, tàn nhẫn.

“Súng nổ kia! Giặc Tây lại đến lùng.
Từng cái lán, nó đốt đi trơ trụi,
Nó vơ hết áo quần trong túi
Mẹ địu em chạy tót lên rừng
Lần đi trước, mẹ vẫy gọi con sau lưng
Tay dắt bà, vai đeo đẫy nải
 Bà lòa mắt không biết lối bước đi.”

Kẻ thủ ác, lấy tiếng súng nổ phá tan rừng núi, phá tan cả giấc ngủ của em, chúng lùng sục như những con thú điên cuồng, không tìm thấy chúng lại “đốt đi trơ trụi” từng cái lán, cướp cả những mảnh quần áo đã cũ mèm, ôi ghê tởm sao lũ giặc đớn hèn. Và cũng chính trong sự cướp phá điên cuồng của lũ giặc, hình ảnh người phụ nữ Tày dã hiện lên một cách mạnh mẽ, kiên cường, một tay chèo lái cả gia đình, đó là vẻ đẹp của sự nhạy bén khi “Mẹ địu em chạy tót lên rừng”. Bóng lưng gầy yếu của người mẹ trở thành trụ cột của cả gia đình khi mở đường rừng đi trước, lưng địu con nhỏ, tay vẫy con lớn, tay dắt theo cả người “bà lòa mắt không biết lối bước đi”, có thế mới thấy trong khó khăn vô vàn sức mạnh của con người đã được khai phá triệt để. Nhưng liệu có thể trốn như thế được bao lâu, bóng lưng người mẹ sẽ trụ vững được bao lần, lúc này đây lòng căm thù lũ giặc cướp nước, khiến nhân dân phải lầm than đã trở thành nguồn động lực, là sức mạnh to lớn để đồng bào miền núi kiên quyết đứng dậy đấu tranh giải phóng quê hương.

“Làm sao bây giờ: ta phải chống!
Giặc đã bắt cha con đi, nó đánh,
Cha chửi Việt gian, cha đánh lại Tây
Súng nổ ngay đì đùng một loạt,
Cha ngã xuống nằm lăn trên mặt đất
 Cha ơi: cha không biết nói rồi…”

Bởi sự hi sinh mất mát đau thương đang diễn ra ngay trước mắt, khắc sâu vào trong lòng những người dân nơi đây, từng người cha, người anh, người con đang bị bị giặc bắt đi, họ bị đánh đập dã man, nhưng trái tim những con người anh hùng ấy vẫn thét lên những tiếng lòng yêu nước, căm ghét lũ giặc khốn đến tận cùng “Cha chửi Việt gian, cha đánh lại Tây”. Sự nhục nhã, điền cuồng đã khiến lũ Tây ra tay thảm sát những người con của núi rừng Tây Bắc, hình ảnh “Cha ngã xuống nằm lăn trên mặt đất/Cha ơi: cha không biết nói rồi…” là hình ảnh đau thương và ám ảnh trong tâm trí người ở lại, đặc biệt nó càng trở nên xót xa khi những hình ảnh hãi hùng ấy lại lọt vào đôi mắt con trẻ, còn gì dã man tàn nhẫn hơn khi đứa trẻ chỉ mới nhận thức được rằng “cha không biết nói rồi”.

“Chúng con còn thơ, ai nuôi ai dạy?
Không ai chống gậy khi bà cụ qua đời!
Mẹ ngồi khóc, con cúi đầu cũng khóc.
Sợ Tây nghe, mẹ dỗ “nín”, con im.
Lán anh em rải rác không biết nơi tìm
Không ván, không người đưa cha đi cất.
Mẹ tháo khăn phủ mặt cho chồng,
Con cởi áo liệm thân cho bố;
Mẹ con đưa cha đi nằm một chỗ
Máu đầy tay, trên mặt nước tràn…
Mày sẽ chết! Thằng giặc Pháp hung tàn
 Băm xương thịt mày, tao mới hả.”

Đau thương phủ xuống để lại một bi kịch xót xa kẻ đầu bạc tiễn người đầu xanh, người vợ gầy đau rứt ruột gan vì mất chồng, bên cạnh lũ con thơ dại vừa phải chịu kiếp mồ côi cha không còn ai nuôi dạy, rồi mai này gia đình sẽ trông cậy vào bàn tay ai gánh vác. Nỗi đớn đau càng được bộc lộ rõ trước cảnh đám tang sơ sài của người vừa nằm xuống trước mũi súng độc ác của thằng Tây, không ván đóng hòm, tấm khăn phủ mặt chính là chiếc khăn đội đầu của người vợ bấy lâu, áo liệm là chiếc áo con đã mặc đến cũ mèm. Và “Mẹ và con đưa cha đi nằm một chỗ”, người về với lòng đất trong lạnh lẽo, đau thương, người ở lại bàn tay vẫn còn vương dòng máu đỏ, đôi mắt nhòe đi, khuôn mặt tràn nước mắt, còn nỗi đau nào hơn nỗi đau này nữa? Tất cả những nỗi khổ, nỗi gian lao chạy giặc vượt núi băng rừng, cùng những hi sinh mất mát đẫm máu đã tụ lại thành nỗi căm hờn sâu sắc, đến bực này rồi đồng bào ta sẽ không nhẫn nhịn chịu đựng nữa, phải biến nỗi oán hận này thành sức mạnh để giết hết bọn giặc Tây cướp nước “Mày sẽ chết! Thằng giặc Pháp hung tàn/Băm xương thịt mày, tao mới hả”. Và cuối cùng với tinh thần anh dũng, lòng quyết tâm diệt giặc của nhân dân, núi rừng Tây Bắc đã sạch bóng quân thù, những người nằm xuống cuối cùng cũng có thể nhắm mắt, còn người ở lại cuối cùng có thể trở về ngôi làng dấu yêu, vui vầy cuộc sống thanh bình.

“Hôm nay Cao – Bắc – Lạng cười vang
Dọn láng, rời rừng, người xuống làng
Người nói cỏ lay trong ruộng rậm
Con cày mẹ phát, ruộng ta quang.
Ðường cái kêu vang tiếng ô tô.
Trong trường ríu rít tiếng cười con trẻ.
Mờ mờ khói bếp bay trên mái nhà lá.
Mặc gà gáy chó sủa không lo,
Ngày hai bữa rau ta có muối.
Ngày hai buổi không tìm củ pấu, củ nâu
Có bắp xay độn gạo no lâu,
Ðường ngõ từ nay không cỏ rậm,
Trong vườn chuối, hổ không dám đến đẻ con
Quả trên cành không lo tự chín tự rụng,
 Ruộng sẽ không thành nơi máu chảy từng vũng”

Có thể nói 15 câu thơ cuối cùng chính là khung cảnh hồi sinh, vươn dậy mạnh mẽ với sức sống tiềm tàng mạnh mẽ của con người và mảnh đất Tây Bắc. Người dân miền núi bắt đầu xây dựng cuộc sống mới, sau bao nhiêu đau thương mất mát, bao lần mưa bom bão đạn, bầu trời Tây Bắc nay đã xanh trở lại, khắp Cao-Bắc-Lạng chỉ có tiếng cười vang, giòn giã, hân hoan niềm vui chiến thắng. Họ đã không cần phải ngày ngày chuyển lán, không cần phải vượt đèo băng suối trong rừng sâu chạy giặc, người lớn thì lên nương phát rẫy để chuẩn bị cho một mùa gieo trồng mới, trẻ con ở nhà thì vui đùa vô lo vô nghĩ, thôi không phải giật mình vì tiếng súng nổ quanh đây. Trong đoạn thơ này Nông Quốc Chấn đã tái hiện lại một cách chân thực, tinh tế cảnh sinh hoạt của người dân tộc Tày, giản dị, đơn sơ, nhưng thanh bình hạnh phúc, giống những ngày giặc Pháp chưa đến lùng.

“Mặt trời lên sáng rõ rồi mẹ ạ!
Con đi bộ đội, mẹ ở lại nhà,
Giặc Pháp, giặc Mỹ còn giết người cướp của trên đất nước ta.
 Ðuổi hết nó đi, con sẽ về trông mẹ.”

Hình ảnh mặt trời lên “sáng rõ” đó là tượng trưng cho một khởi đầu mới đầy hy vọng, người con lớn lên theo ánh mặt trời cách mạng mà ra chiến trường, chiến đấu bảo vệ quê hương, cùng lời hứa chân thành, sâu sắc mang đậm âm hưởng của dân tộc miền núi: “Ðuổi hết nó đi, con sẽ về trông mẹ”. Đó là niềm tin về một chiến thắng không xa, niềm tin về một một đất hoàn toàn sạch bóng quân thù, nhân dân nơi nơi đều được hưởng cuộc sống yên vui, thái bình, sẽ không còn chết chóc chiến tranh, sẽ không còn giọt nước mắt sinh ly tử biệt nào phải rơi xuống, rồi con sẽ lại về bên mẹ đầy tha thiết, chân thành.

Dọn về làng là một bài thơ hay mang nhiều giá trị hiện thực sâu sắc tái hiện cuộc quá khứ đau thương, hào của dân tộc đồng thời thể hiện niềm vui mừng phấn khởi tột cùng trước tin quê hương được giải phóng, núi rừng Tây Bắc đã không còn phải nghe tiếng súng giặc, đồng thời ca ngợi sức sống tiềm tàng mạnh mẽ, sự hồi sinh, vực dậy nhanh chóng của các tỉnh miền núi phía Bắc và đồng bào nơi đây sau chiến tranh.

1. Cuộc sống gian khổ của nhân dân Cao – Bắc – Lạng và tội ác của thực dân Pháp được thể hiện đậm nét từ câu thơ thứ 7 đến câu 37 của bài thơ.

Chú ý đến những chi tiết thể hiện tình cảnh người dân phải đi khỏi làng để tránh giặc.

Chạy hết núi lại đến khe, cay đắng đủ mùi

Mẹ địu em chạy tót lên rừng

Lần đi trước, mẹ vẫy con sau lưng

Tay dắt bà, vai đeo đầy tay nải

Đến những cái chết tức tưởi và nỗi đau xót của những người còn sống :

Mẹ tháo khăn phủ mặt cho chồng

Con cởi áo liệm thân cho bố,

Mẹ con ẵm cha đi nằm ở chân rừng

Máu đầy tay, nước mắt tràn đầy mặt…

Qua đó ta thấy được tội ác dã man của thực dân Pháp : đốt làng, cướp của, chém giết những người dân vô tội.

2. Nét độc đáo trong cách thể hiện niềm vui Cao – Bắc – Lạng được giải phóng ở phần đầu và phần cuối của bài thơ.

Với người con, mẹ luôn là người sẻ chia những niềm vui nỗi buồn một cách tự nhiên, chân thành nhất. Nhân vật trữ tình trong bài thơ cũng đã bày tỏ niềm vui với người mẹ của mình trước cảnh quê hương được giải phóng, sự lựa chọn ấy giúp thể hiện niềm vui một cách chân thành, sâu sắc.

Niềm vui quê hương giải phóng được thể hiện bằng một phong cách riêng, đậm màu sắc độc đáo của tư duy miền núi. Cách thể hiện niềm vui cũng mang phong cách riêng : lối nói cụ thể ; cảm xúc, suy nghĩ được diễn đạt bằng những câu thơ giàu hình ảnh.

Sự đối lập của đọạn thơ này với đoạn thơ nói về tội ác của quân thù :

– Về cảm xúc và giọng điệu thơ : vui tươi, sung sướng >< uất hận, căm thù, buồn tủi.

– Về hình ảnh thơ : tươi sáng, rộn ràng >< u uất, dữ dội.

3. Bài thơ thể hiện rất rõ bản sắc dân tộc miền núi trong cách xây dựng hình ảnh. Đó là những hình ảnh giản dị, gần gũi với đời sống hằng ngày của người dân miền núi, lối diễn đạt tự nhiên ; không cầu kì, hoa mĩ. Chính điều đó đã tạo nên nét đặc sắc của bài thơ.

Có thể nhận thấy điều đó qua những câu thơ như :

– Người đông như kiến, súng đầy như củi

– Mấy tháng năm qua quên tết tháng giêng, quên rằm tháng bảy

– Đường đi lại vắt bám đầy chân

– Mẹ địu em chạy tót lên rừng

– Máu đầy tay, nước tràn đầy mặt.

Xem thêm sơ đồ tư duy của các tác phẩm, văn bản lớp 12 hay, chi tiết khác:

Giới thiệu kênh Youtube THPT Nguyễn Chí Thanh


Đăng bởi: THPT Nguyễn Chí Thanh

Chuyên mục: Học Tốt,Lớp 12

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button

Bạn đang dùng trình chặn quảng cáo!

Bạn đang dùng trình chặn quảng cáo!